Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Tả quân Lê Văn Duyệt - Ta đã lãng quên ai?

Đây là bài viết của bạn Dũng Phan trên page "The X file of History" về một khai quốc công thần của vua Gia Long: Tả quân Lê Văn Duyệt

Page "The X file of History" là một page rất hay trên Facebook (tốn của tui kha khá thời gian), nhưng bực nhất là các bài thường post theo kiểu mô tả ảnh nên khi xem lại thì chữ đọc rất khó chịu, thế nên copy ra đây để đọc lại cho dễ dàng.

Và để tham gia bình luận trao đổi, mời vào trực tiếp tại page "The X file of History".




Hôm nay, tôi sẽ kể cho các bạn nghe về người giỏi nhất dưới trướng của vua Gia Long: tả quân Lê Văn Duyệt. Về cái cách ông đã xây dựng một vùng đất, cho người dân sống trong hạnh phúc, an lành. Lịch sử thời bình, cần những bài học về những con người như thế này.

Ông đã bị lãng quên, sự lãng quên của sử sách dành cho ông khiến những người có tâm với lịch sử phải đau lòng. Lê Văn Duyệt, hãy nhớ tên vị tả quân này. Bởi 3 thế kỷ trước, vào buổi đầu sơ khai của lịch sử vùng đất Nam Kỳ. Ngài đã một tay gây dựng cơ đồ, tạo nên nền tảng giàu mạnh cho vùng đất phía Nam đất nước ngày nay, với Gia Định – SaiGon là trung tâm.

***
Ta sẽ bắt đầu bằng một câu chuyện:

Năm 1807, Lê Văn Duyệt nhận lệnh vua đi dẹp loạn Mọi Vách Đá. Thay vì thẳng tay đàn áp quân khởi nghĩa, tả quân Lê Văn Duyệt ra lệnh chém đầu chưởng cơ Lê Quốc Huy, tên đại thần tham nhũng, tàn ác, nguyên nhân chính khiến người dân bất mãn với triều đình và hình thành nên cuộc khởi nghĩa.

Tôi tin rằng khi kể câu chuyện này, rất ít người được nghe. Lê Văn Duyệt đã làm một việc mà trước giờ không ai làm. Hành động xuất phát từ lòng thương dân và sự căm ghét những kẻ tham nhũng, tàn hại dân. Các cuộc khởi nghĩa nổ ra, triều đình đưa quân đến dẹp. Nhưng chưa bao giờ nghĩ ngược lại: nếu dân không bị đàn áp, bị bóc lột, thì dân khởi nghĩa làm cái gì? Hành động của Lê Văn Duyệt lập tức có đáp án: chỉ một năm sau khi chém Lê Quốc Huy, Mọi Vách Đá tự động tan rã.

Năm 1819, khi đi thị sát hai tỉnh Thanh Hóa – Nghệ An. Hai vùng đất nổi tiếng nhiều nhân tài nhưng cũng lắm kiêu binh. Lê Văn Duyệt thẳng tay trừng trị những kẻ tham quan ô lại ở trong vùng, vỗ yên dân chúng. Mọi ý đồ nổi loạn chấm dứt.

Kẻ thù không bao giờ là dân. Kẻ thù là những con sâu đục khoét bên trong.

Vào cái giai đoạn mà nhà Nguyễn có một sự đề phòng nhất định cho Cơ Đốc Giáo cũng như “bế quan tỏa cảng” thì ở Gia Định – Chợ Lớn điều này không hề xảy ra. Lê Văn Duyệt đã tạo nên một vùng đất trong mơ với bàn tay giang rộng đón mời tất cả, không phân biệt nghèo hèn, tôn giáo, sắc tộc. Khi 2 giáo mục bị Minh Mạng bắt giữ, chính Lê Văn Duyệt đến tận nơi xin thả người. Chợ Lớn chính nhờ nền tảng của ông mà phát triển đến tận ngày nay. Các dân tộc Hoa, Việt, Ấn, Miến Điện, Chiêm Thành, Vạn Tượng ... đều đoàn kết và yêu thương nhau. Nếu nhà Nguyễn “bế quan tỏa cảng” thì Gia Định lại mở rộng cửa cho thuyền vào, Lê Van Duyệt đã nói “Cái nhà đóng cửa cài then thì sao gió vào được. Gió không vào được thì sao người khỏe được.” Ông khuyến nông, trọng thương biến vùng đất trở nên giàu có vô cùng, và được cai quản bằng sự thượng tôn pháp luật. Con kênh Vĩnh Tế được xây dựng, nói theo ngôn ngữ hiện đại của dân xây dựng: nếu Thoại Ngọc Hầu là chỉ huy trưởng, thì Lê Văn Duyệt là trưởng ban quản lý dự án của công trình. Bằng một cái tầm của một bậc vĩ nhân đã xây nên con kênh quan trọng nhất thời phong kiến Việt Nam không chỉ trên lĩnh vực quân sự mà cả kinh tế.

Chứng kiến những điều ấy, cụ Phan Thanh Giản đã nói “Gia Định thật có phúc khi có được một tổng trấn như đại quan.”

Những gì tả quân Lê Văn Duyệt làm đôi khi ngược hẳn với chính sách ở Phú Xuân – Huế. Nhưng ông vẫn làm bởi sau lưng của ông là dân, vì dân mà ông làm, chứ không phải vì cá nhân nào cả. Ông làm cho người dân được no đủ. Với ông, thế là đủ. Nhưng sau này ông mất đi, Minh Mạng đã phủ nhận ông. Con trai nuôi của ông là Lê Văn Khôi đã vì đè nén mà đứng khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa bị chìm trong bể máu (chúng tôi sẽ có 1 bài dành cho chuyện này sau).

Tả quân sẵn sàng khoan dung với giặc nếu kẻ thù có lòng hối cải, nhưng nếu chống lại thì ông thẳng tay trừng trị cực kỳ tàn bạo. Ông đặt thượng tôn pháp luật lên hàng đầu. Kẻ ăn năn thì tiếp nhận, kẻ ngoan cố thì lãnh đòn.

Năm 1822, một phái đoàn Anh do ông Crawfurd dẫn đầu đã đến Gia Định. Sau này trong hồi ký của mình, Crawfurd đã viết những dòng sau về Gia Định thế kỷ 19.

Tôi bất ngờ thấy rằng nó (thành Gia Định) không thua gì kinh đô nước Xiêm. Tôi có cảm giác rằng đây là một vùng đất lý tưởng.
Tất cả đều được sống trong bầu không khí an lành. Trộm cướp không có, người ăn mày rất hiếm. Tổng trấn rất nhân từ, tha cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp nếu chúng ăn năn. Nhưng ông lại rất tàn bạo với kẻ không quy phục triều đình. Chưa ở đâu, kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây. Một vị quan nhỏ ra đường ghẹo gái cũng bị cách chức lưu đày, một đứa con vô lễ chửi mẹ mà tổng trấn biết được, ngài phạt cực nặng.

Đối lập với Bắc Kỳ và Trung Kỳ đang vất vả. Gia Định thành ngày đó là thiên đường của người Việt.

Nhưng vì sao ông bị phủ nhận? Vì ông bị vua Minh Mạng thanh trừng? Hay vì ông là người theo phò Nguyễn Ánh, đánh Tây Sơn?

Dù lý do nào đi nữa, sự phủ nhận và sự thiếu vắng tên ông thời điểm bây giớ cũng khiến những người có tâm với sử nhà đau lòng.

Chúng ta luôn nói về chống tham nhũng. 200 năm trước, tả quân sau khi chém đầu Huỳnh Công Lý – cha vợ nhà vua vì tham nhũng (đừng tưởng Việt Nam không có Bao Công nhé). Ngài đã dâng tấu cho Minh Mạng, nội dung bản tấu như sau: “Chống tham nhũng như chống mối, phải chống từ nóc chống xuống. Đám quan tham nhũng như bầy mối. Mối càng to, đục khoét càng dữ. Không diệt trừ tận gốc thì nhà sập. Lúc ấy bệ hạ và quần thần muốn đỡ cũng đỡ không nổi đâu”

Tiếng lòng ấy 200 năm sau vẫn còn nguyên giá trị !

Tôi xin kết bài này bằng một câu trong báo An Ninh Thế Giới, số 3 - tháng 3/2008: "Lịch sử phức tạp có thể mang định kiến, chủ quan và sai lầm. Nhưng lòng dân thì luôn sáng suốt và giản dị, ai thương dân, đó là người yêu nước. Những con người như thế vẫn luôn được dân xem như những bậc anh hùng. Đền thờ ông được dựng nhiều nơi"

-----------------------
  • Nếu có dịp, ghé qua Bình Thạnh, bạn sẽ được nghe về cái tên “Lăng Ông Bà Chiểu”. Đấy chính là lăng của tả quân Lê Văn Duyệt. Rất đẹp và sừng sững còn mãi với thời gian. Và mình cho các bạn ở TPHCM thêm một kiến thức lịch sử nữa: đường Cách Mạng Tháng 8 trước 1975 là đường Lê Văn Duyệt. 
  • Một số dẫn chứng được tham khảo từ cuốn sách "Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ" của "Tạp chí xưa và nay".
  • Thông tin tham khảo thêm tại Wikipedia (bản tiếng Việt)
Tranh Tả Tướng Quân Lê Văn Duyệt do Viet Toon vẽ miêu tả lại cảnh ông đốc thúc đắp kênh Vĩnh Tế

Vì sao Quang Trung đánh trận Ngọc Hồi chậm một ngày?

© GS. Lê Văn Lan (bài đăng trên báo QĐND)

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ

Trong Chiến dịch giải phóng Thăng Long (còn gọi là “Chiến dịch Ngọc Hồi - Đống Đa”) đầu Xuân năm Kỷ Dậu - 1789, đại đồn Ngọc Hồi của quân xâm lược Mãn Thanh là một mục tiêu tấn công chủ yếu của Quang Trung Nguyễn Huệ và quân Tây Sơn.

Trong kế hoạch của chủ tướng đạo quân xâm lược Mãn Thanh Tôn Sĩ Nghị phòng thủ tòa Kinh thành Thăng Long vừa chiếm được từ ngày 20 tháng 11 năm Mậu Thân, để rồi đến ngày mồng 6 Tết Kỷ Dậu sẽ bắt đầu tiến quân vào Quảng Nam đánh tiêu diệt hoặc bắt Tây Sơn Nguyễn Huệ phải hàng phục, thì đại đồn Ngọc Hồi cũng đồng thời vừa là một căn cứ tiền tiêu, vừa là một bàn đạp xuất phát quan trọng nhất.

Ngọc Hồi ở cách Thăng Long 14km về phía Nam, nằm ngay trên trục đường Cái quan (Quốc lộ 1 ngày nay). Chủ tướng Mãn Thanh Tôn Sĩ Nghị tin chắc, và Quang Trung Nguyễn Huệ cũng biết rằng, một khi có giao tranh, thì Ngọc Hồi sẽ là chỗ đánh trận kịch liệt nhất.

Vì thế, ở Ngọc Hồi, trên một nền đất rộng gần 20 mẫu, cao hơn mặt đường khoảng 0,5m-đến nay vẫn còn giữ được tên gọi là “Cánh Đồng Đồn” và “Cánh đồng Bứng”-dàn ra hai bên đường Cái quan, Tôn Sĩ Nghị đã cho đóng tới 3 vạn quân, cử chính phó tướng của mình là Đề đốc Hứa Thế Hanh chỉ huy, cùng với cả hai chức Tổng binh Quảng Tây là Thượng Duy Thăng, Tổng binh Quảng Đông là Trương Triều Long đến trấn giữ. Lại còn cho đóng đồn Văn Điển ở ngay phía sau để tiếp viện. Và một loạt đồn nữa, ở phía trước để che chắn (phòng thủ) theo chiều dọc: Gián Khẩu, Nguyệt Quyết, Hà Hồi…

Đấy là những hành động nhiều nhất thì cũng chỉ có ý nghĩa chiến thuật để gỡ lại cái sai lầm chiến thuật chết người của phía Mãn Thanh: Đang đà dồn dập tiến quân, bỗng dưng khựng lại, theo lời huênh hoang của viên chủ tướng họ Tôn: “Năm đã gần hết, việc gì phải vội vàng? Không cần đánh gấp! Giặc đang còn gầy, ta nên nuôi cho nó béo, để nó tự dẫn xác đến mà làm thịt!”.

Về phía Tây Sơn, thì như lời Quang Trung Nguyễn Huệ đã nói khi dẫn đại quân từ Phú Xuân, qua Nghệ An, Thanh Hóa, ra tới vùng đèo Tam Điệp ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân (15-1-1789): “Lần này ta ra thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã tính sẵn rồi. Chỉ trong vòng mươi ngày là đuổi được giặc Thanh!”.

Theo “phương lược tiến đánh đã tính sẵn” ấy, quân Tây Sơn sẽ (đã) hành tiến tấn công theo đội hình “Bàn tay xòe”:


  • Trung quân (ngón tay giữa) gồm bộ binh và tượng binh (100 thớt voi chiến) do chính Quang Trung chỉ huy, hành quân chiến đấu dọc con đường Cái quan, từ Tam Điệp thẳng tới Thăng Long, đánh vỗ mặt đạo Trung quân của địch.
  • Cánh thủy quân thứ nhất (ngón đeo nhẫn) đi đường ven biển, do Đô đốc Tuyết chỉ huy, vào cửa sông Cái, đánh đạo Tả dực của quân Thanh đóng ở Hải Dương, không cho nó lên ứng cứu Trung quân.
  • Cánh thủy quân thứ hai (ngón tay út), do Đô đốc Lộc chỉ huy, cũng theo đường biển, nhưng vòng xa lên mạn Lục Đầu, chẹn đường Trung quân giặc thua chạy về nước, ở Phượng Nhãn (Bắc Giang).
Đó là hai cánh quân Hữu dực của Tây Sơn. Còn đạo Tả dực thì cũng gồm hai cánh:
  • Cánh kỵ binh và tượng binh (ngón tay trỏ) do Đô đốc Bảo chỉ huy, đi song song với đạo Trung quân nhưng chếch về phía Tây, theo đường đồi núi, đổ ra Đại Áng, phục binh ở phía tây Ngọc Hồi.
  • Cánh Khinh binh tinh nhuệ (ngón tay cái) do Đô đốc Long chỉ huy, vòng xa hơn về mạn tây, theo con đường “Thượng đạo” (đường Hồ Chí Minh-Trường Sơn ngày nay) bất ngờ đến Khương Thượng, sát Đống Đa ở mạn tây nam Thăng Long, đánh vỗ quân Hữu dực của giặc ở đây, rồi nhanh chóng thọc dao vào sau lưng Trung quân (đại bản doanh) Tôn Sĩ Nghị.

Đúng đêm 30 Tết, triển khai thế trận, đạo Trung quân Tây Sơn xuất phát từ Tam Điệp. Đánh mạnh và quá nhanh, chỉ qua hai ngày Mồng Một và Mồng Hai Tết, tiến dọc chiều sâu chính diện 80km, nhổ phăng các đồn tiền tiêu Gián Khẩu, Nguyệt Quyết… của địch. Đến đêm Mồng Ba Tết, đạo quân này đã tiến tới trước đồn Hà Hồi – cách Ngọc Hồi 6km, cách Thăng Long 20km.

Chỉ chốc lát, và chỉ một cung đường ngắn ngủi nữa, đạo Trung quân này đã hoàn toàn có thể tấn công Ngọc Hồi, chậm nhất là vào sáng sớm Mồng Bốn Tết.

Nhưng thực tế, đã không có trận đánh nào ở Ngọc Hồi trong cả ngày Mồng Bốn Tết ấy.

Vì sao như vậy?

Đã có nhiều cách giải thích từ trong lịch sử. Chẳng hạn như (và cả 3 vạn quân tướng giặc ở Ngọc Hồi cũng đã nghĩ thế) rằng vậy là để dứ đòn, khiến quân Thanh phải căng thẳng, mệt mỏi đối phó, trước khi trận đánh thực sự nổ ra.

Nhưng thật ra, đây chỉ là động thái chờ nhau giữa các cánh quân Tây Sơn, để phối hợp nhịp nhàng, hữu hiệu, trong một thế trận, với “phương lược tiến đánh đã tính sẵn rồi”-như lời tuyên bố của Quang Trung từ trước đấy.

Bởi vì đạo Trung quân do chính chủ soái Tây Sơn chỉ huy, vừa đi đường thẳng và phẳng, vừa đánh quá nhanh, cho nên phải chờ đạo Hữu dực đi đường thủy và vòng xa về phía đông. Nhất là phải chờ đạo Tả dực cũng vừa phải vòng xa về mạn tây, lại vừa phải đi đường núi. Đặc biệt đối với việc đánh Ngọc Hồi, thì Quang Trung còn phải chờ cánh quân Đô đốc Bảo, giữ vai trò rất quan trọng là trực tiếp đến đích phối hợp tác chiến.

Một ngày và một đêm-từ sáng sớm Mồng Bốn Tết đến sáng sớm Mồng Năm Tết-là thời gian cần và đủ để điều hành và thực hiện tất cả những công việc và hành động quân sự trên chiến trường ấy.

Cho nên, rạng sáng Mồng Năm Tết, khi Quang Trung vừa tháo chiếc khăn vàng hoàng đế chít đầu, thắt vào quanh cổ để tỏ ý quyết không sống nữa nếu không thắng trận này và vừa trèo lên bành voi phất cờ lệnh cho toàn đạo Trung quân xung trận, bất chấp địa lôi, rào cản, súng đạn, hỏa mù… chống trả của giặc, sau đấy đã tràn được vào đại đồn Ngọc Hồi mà đánh giết, khiến chiến trường “máu ngập đến mắt cá chân”. Như sự ghi chép của sử cũ thì những kẻ sống sót khi bỏ đồn chạy thục mạng về phía Thăng Long, nhưng vấp phải đội quân nghi binh Tây Sơn phục sẵn, nổi dậy giương cờ gióng trống xua đuổi, chúng đành phải dạt cả về phía tây, để ở đấy mà chịu trận đánh tiêu diệt của Đô đốc Bảo vừa kịp đến phối hợp: Dùng voi, ngựa giày xéo, giẫm đạp toàn bộ quân giặc dưới khu bùn lầy Đầm Mực!

Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa

Cũng vào lúc rạng sáng Mồng Năm Tết ấy, cánh khinh binh vu hồi của Đô đốc Long đã kịp tới đích để cùng dân chúng “Ba làng gừng” (Khương Thượng, Khương Trung, Khương Đình) làm “trận Rồng lửa”, phá tan đại đồn Đống Đa của quân Thanh, rồi nhanh chóng xông qua cửa Ô Chợ Dừa, đánh thẳng vào sau lưng đại bản doanh địch. Chủ tướng Tôn Sĩ Nghị đang mải miết theo dõi, chỉ huy hướng trận phía trước ở mạn nam-Ngọc Hồi-bất ngờ, thảng thốt, chỉ kịp đập kiếm lệnh xuống bàn, thét câu: “Địch trên trời rơi xuống, dưới đất chui lên à?” và nhảy ngay lên con ngựa chưa kịp thắng cả yên cương, vượt sông Cái (sông Hồng) cắm đầu chạy một mạch về nước, sau khi may mắn nhờ vứt bỏ cả ấn tín, giấy tờ… mà thoát khỏi được chiếc bẫy chẹn đường ở Phượng Nhãn của Đô đốc Lộc vừa kịp đến giương lên ở đấy.

Người dân Thăng Long đón vua Quang Trung ngày Mùng năm Tết

Chiến dịch giải phóng Thăng Long vậy là kết thúc thắng lợi trọn vẹn vào ngày Mồng Năm Tết. Hiện chưa thể biết rõ hết, trong ngày Mồng Bốn Tết trước đấy, phương thức thông tin liên lạc để “điều binh khiển tướng” đã được vị Hoàng soái Tây Sơn Nguyễn Huệ thực hiện cụ thể như thế nào, để có thể tạo ra được sự phối hợp nhịp nhàng đến mức thần diệu như vậy giữa năm cánh quân, đúng là năm ngón tay của một “Bàn tay xòe chỉ thẳng”, nhưng lại là những đơn vị lớn, hoạt động với những nhiệm vụ trọng đại khác nhau và ở xa nhau! Tuy nhiên, chắc chắn là trong một ngày đánh trận Ngọc Hồi chậm lại ấy, những công việc vô cùng cần thiết nhưng tinh tế và khó khăn, phức tạp cực kỳ như thế, đã được tổ chức thực hiện một cách tuyệt vời!



Xem thêm: NHỮNG CÁI TẾT OAI HÙNG NHẤT TRONG LỊCH SỬ CỦA VN

Lịch sử Quốc kỳ Việt Nam

Đáng ra các bài viết lịch sử phải lưu trữ được quốc kỳ của Nam Việt/Đại Việt/Đại Nam/Việt Nam qua chiều dài thời giạn, nhưng thật tiếc là khó kiếm tìm (chỉ mới ghi nhận được từ đầu thế kỷ 19 đến này).

Bài này được trích từ một phần của bài "Quốc Kỳ Việt Nam: Nguồn Gốc và Lẽ Chính Thống" của Nguyễn Đình Sài. Dưới quan điểm của cá nhân tôi thì đây là một bài viết khá hay và chưa tìm bài nào (từ nguồn trong nước) được như thế này để diễn giải được nhiều thứ liên quan sau này (ví dụ: nhạc vàng), vậy nên re-post ở đây để lưu giữ và tham khảo sau này, ngoài ra có thể tham khảo thêm bài khác tại Wikipedia: Quốc kỳ Việt Nam

Quốc kỳ Việt Nam (hiện nay)



1. Long Tinh Kỳ: Quốc Kỳ nguyên thủy của triều đình Nhà Nguyễn

Đối chiếu với các tài liệu được tham khảo thì lá quốc kỳ đầu tiên trong thời nhà Nguyễn đã được đặt tên bằng tiếng Hán là "Long Tinh Kỳ". (Ghi chú cho tuổi trẻ Việt Nam: Ý nghĩa của các chữ Hán như sau: Kỳ là cờ. Long là Rồng, biểu tượng cho hoàng đế, có màu vàng. Râu tua màu xanh dương chung quanh tượng trưng cho Tiên và cũng là màu đại dương, nơi Rồng cư ngụ. Tinh có nghĩa là ngôi sao trên trời, mà cũng có nghĩa là màu đỏ. Màu đỏ còn biểu tượng cho phương Nam và cho lòng nhiệt thành. Long Tinh Kỳ là Cờ Rồng có chấm Đỏ viền tua xanh, biểu hiệu cho một dân tộc có nguồn gốc Rồng Tiên ở phương Nam vùng nhiệt đới.)



Long Tinh Kỳ (1802-1885) * Nền vàng biểu hiệu hoàng đế và sắc tộc dân Việt * Chấm đỏ biểu hiệu phương nam * Tua xanh biểu hiệu đại dương, vẩy rồng

Cờ Long Tinh đã có từ thời vua Gia Long khi mới thống nhất sơn hà và lên ngôi hoàng đế vào năm 1802. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ 19, nhà Nguyễn chưa có bang giao quốc tế với các nước Tây phương, nên Long Tinh Kỳ được xem là "Đế Kỳ". Đế kỳ khác quốc kỳ ở chỗ:
  • Đế kỳ là cờ của nhà vua, vua ở đâu thì đế kỳ treo hay dựng nơi đó. 
  • Quốc kỳ là biểu tượng của quốc gia, treo tại các nơi có cơ quan công quyền chứ không chỉ ở chốn hoàng triều.
Năm 1863, sau khi Kinh Lược Sứ Phan Thanh Giản thụ mệnh vua Tự Đức đi sứ sang Pháp trở về, thấy Pháp chào quốc kỳ Tam Tài trong các buổi lễ, nên ý niệm dùng Long Tinh Kỳ làm "quốc kỳ" mới khởi đầu.

Năm 1885, trước âm mưu đô hộ của thực dân Pháp đã lộ liễu quá rõ, triều đình nhà Nguyễn không còn chịu nổi áp lực ngoại xâm, Phụ Chính Đại Thần Tôn Thất Thuyết ra lệnh tấn công quân Pháp. Cuộc tấn công bị thất bại, thủ đô Huế bị thất thủ. Ông phò vua Hàm Nghi trốn chạy khỏi hoàng thành, ra Quảng Trị, rồi sau đó lên căn cứ Tân Sở, miền núi Trường Sơn, giáp biên giới Lào-Việt, để tiếp tục chống Pháp. Triều đình mang theo lá cờ Long Tinh để thể hiện sự hiện diện của vua Hàm Nghi và cũng để hiệu triệu quốc dân hưởng ứng phong trào "Cần Vương" (Cần Vương nghĩa là cứu viện vua). Nhiều nhà ái quốc đã hưởng ứng phong trào Cần Vương, và nổi lên chống Pháp khắp nơi từ nam chí bắc, mà lịch sử cận đại còn ghi rõ như các cuộc khởi nghĩa của các anh hùng Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Cao Thắng, Nguyễn Thiện Thuật, v.v... Họ dựng lên những lá "Long Tinh Kỳ" tại bộ chỉ huy cũng như tiền đồn, để xác quyết sự hưởng ứng của họ đối với hịch Cần Vương. (Ghi chú Việt Sử Toàn Thư Trang 467: "Từ Trung ra Bắc, cờ khởi nghĩa bay khắp nơi"). Chính vì vậy mà sử sách thế giới mới ghi nhận sự hiện hữu của lá Cờ Long Tinh vào năm 1885, mặc dù nó đã được dùng làm đế kỳ từ đầu thế kỷ 19.

2. Đại Nam Quốc Kỳ

Nước Việt ta từ thời lập quốc đến đầu triều Nguyễn đã có nhiều quốc hiệu. Từ năm 1010, vua Lý Thái Tổ khai sáng triều đại nhà Lý thì đổi quốc hiệu Đại Cồ Việt thời Đinh Bộ Lĩnh thành ra Đại Việt. Quốc hiệu này vẫn được giữ nguyên qua nhiều triều đại Trần, Hồ, Lê, cho đến cuối triều đại Tây Sơn vào đầu thế kỷ 19. Tuy vậy, các triều đại Trung Hoa không hề chấp nhận quốc hiệu Đại Việt mà vẫn gọi nước ta là "An Nam", ngụ ý một nước Nam được trị cho yên và tùng phục người Hán, không còn quật cường nữa. Khi vua Gia Long lên ngôi vào năm 1802, nhà vua sai sứ sang Tàu cầu phong và xin lấy quốc hiệu là Nam Việt. Tuy nhiên, Thanh triều nghĩ đến tên Nam Việt vốn là quốc hiệu từ thời vua Triệu Đà vào năm 207 trước Công Nguyên (BC). Lúc bấy giờ, Nam Việt còn bao gồm hai tỉnh lớn Quảng Đông, Quảng Tây, và đảo Hải Nam. Sau Công Nguyên (AD) thì các đất ấy đã bị người Hán chiếm mất. Đến thế kỷ 18, Quang Trung Hoàng Đế, một anh hùng bách chiến bách thắng của dân tộc Việt đã định đòi nhà Thanh trả lại các vùng này, song chưa thành công thì ông đã tạ thế lúc mới 40 tuổi. Khi vua Gia Long thống nhất sơn hà, muốn đổi quốc hiệu thành Nam Việt, Thanh triều nhớ lại lời yêu sách của vua Quang Trung, nên lo ngại và không chấp thuận. Để giữ hòa khí, Thanh triều mới tráo đổi chữ Việt ra trước chữ Nam để cho khỏi lầm với tên cũ. Vì thế, nước ta có quốc hiệu là Việt Nam kể từ năm 1804. Năm 1820, vua Minh Mạng nối ngôi cha, mở mang bờ cõi rộng lớn về phía tây và phía nam. Minh Mạng cũng sai sứ sang Tàu xin tấn phong và xin đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam, ngụ ý một nước Nam rộng lớn.

Tuy nhiên Thanh triều đã không chính thức chấp thuận cho vua Minh Mạng đổi quốc hiệu mới thành Đại Nam Quốc. Mãi đến gần hai thập niên sau, nhân nhà Thanh bắt đầu suy yếu, vua Minh Mạng đã quyết định đơn phương đổi tên nước thành Đại Nam và chính thức công bố tên mới vào ngày 15 tháng 2, 1839. Quốc hiệu này đã được dùng trong đời vua Tự Đức và các đời vua kế tiếp. Một số tác phẩm nổi tiếng vào thời đó đã mang tên Đại Nam. Điển hình là bộ sách "Đại Nam Thực Lục Chính Biên" và bộ "Đại Nam Nhất Thống Chí" do Quốc Sử Quán triều vua Tự Đức soạn ra, tổng hợp các công trình sử sách từ các đời vua trước.

Trong lúc đó, thì người Pháp cũng theo sử sách của Tàu, vẫn gọi nước ta là "Annam", và cũng cùng ngụ ý tương tự như người Tàu, để "yên trị" người Việt.

Năm 1885, vì cờ Long Tinh theo vua Hàm Nghi vào bưng kháng Pháp, nên người Pháp không chấp thuận cho vua Đồng Khánh dùng Long Tinh Kỳ làm quốc kỳ nữa. Triều đình Đồng Khánh phải chế ra lá cờ mới. Lá cờ mới cũng có nền vàng, nhưng màu đỏ thì gồm hai chữ Hán "Đại Nam" mang tên quốc hiệu nước ta lúc bấy giờ, tức là "Đại Nam Kỳ". Tuy nhiên, những người tinh thông chữ Hán, khi nhìn thoáng qua lá cờ mới đều nhận thấy không hoàn toàn giống các nét chữ "Đại" và "Nam", nên không ai có thể quả quyết rằng lá cờ ấy liên hệ với quốc hiệu Đại Nam. Sau đây là hình lá cờ Đại Nam, được tìm thấy qua tài liệu của người Tây phương.


Đại Nam Kỳ (1885-1890) * Nền vàng * Hai chữ Đại Nam màu đỏ & xoay 90 độ ngược vị trí đối diện

Chúng ta hãy nhìn lại hai chữ Đại Nam viết bằng Hán tự sau đây:



Bây giờ hãy thử xoay chiều, chữ Đại xoay 90 độ ngược chiều kim đồng hồ và chữ Nam xoay 90 độ theo chiều kim đồng hồ:


Bây giờ, chúng ta mới nhận thấy hai chữ Đại và Nam xoay chiều theo kiểu trên khá giống lá quốc kỳ nước ta vào năm 1885-1890. Tuy vậy, chữ bên trái trên lá cờ khá giống chữ Đại, trong khi chữ bên phải trên lá cờ không hoàn toàn giống chữ Nam. Nguyên do có thể là vì người ngoại quốc đã không rành thuật viết chữ Hán, nên đã thiếu sót vài nét khi chuyển thành hình vẽ của chữ Nam. Cũng có thể đó chỉ là sự cố ý của triều đình Đồng Khánh khi thực hiện lá cờ, vì vua Đồng Khánh do Pháp đưa lên ngôi, là một ông vua bù nhìn, thể chất yếu đuối, thiếu tinh thần tự chủ, nên không dám làm mất lòng nhà Thanh cũng như chính phủ bảo hộ Pháp. Vì thế triều đình đành phải xoay đổi đi một chút.

3. Quốc kỳ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ dưới hai triều đại Kháng Pháp 1890 – 1920

Vua Đồng Khánh ở ngôi được 3 năm thì băng hà vì bạo bệnh vào ngày 25/12/1888, lúc mới 25 tuổi. Vì các con của ông còn nhỏ nên triều đình lập hoàng tử Bửu Lân, con vua Dục Đức lên ngôi năm 1889, lấy hiệu là Thành Thái.

Vua Thành Thái là một vị vua thông minh, hiếu học, còn nhỏ tuổi mà sớm có ý chí tự cường dân tộc và có tinh thần canh tân đất nước. Ông thích tìm cơ hội sống gần dân, thường ra khỏi hoàng thành giả dạng đi chơi hay săn bắn, thậm chí về sau còn giả điên, nhưng thật ra là để tiếp xúc với các nhà chí sĩ cách mạng.

Trước đó, vào tháng 8/1883 đời vua Hiệp Hòa, Pháp tấn công vào cửa Thuận An, gởi tối hậu thư bắt ép triều đình phải ký hoà ước Quý Mùi 1883, công nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, còn Trung và Bắc Kỳ thuộc quyền bảo hộ của Pháp (có nghĩa là mất tư cách độc lập về ngoại giao và quốc phòng). Từ đó cho đến năm 1945, nước ta không còn là một lãnh thổ nguyên vẹn từ Nam chí Bắc.

Cảm thông tâm trạng bất mãn của nhân dân thể hiện qua những tiếp xúc với các sĩ phu ngoài hoàng thành, vua Thành Thái đã không những không thỏa mãn các đòi hỏi của chính quyền bảo hộ, mà còn trọng dụng nhiều nhân tài thanh liêm và đức độ như các ông Ngô Đình Khả, Nguyễn Hữu Bài, với hy vọng khôi phục và canh tân đất nước. Năm 1890, nhà vua xuống chiếu thay đổi quốc kỳ chữ Hán bằng quốc kỳ mới. Lá cờ nền Vàng Ba Sọc Đỏ lần đầu tiên được cấu tạo và được dùng làm quốc kỳ.


Đại Nam Quốc Kỳ (1890-1920) * Nền vàng * Ba sọc đỏ bằng nhau biểu hiệu bắc nam trung bất khả phân

Có thể nói Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ - gọi tắt là "Cờ Vàng" - là lá "quốc kỳ" đúng nghĩa đầu tiên của dân tộc Việt, vì nó hàm chứa nguyện vọng độc lập và thống nhất của lãnh thổ Việt.

Sự kiến tạo lá quốc kỳ mới ấy có nhiều ý nghĩa vô cùng quan trọng:
  • Thể hiện ý chí đấu tranh, bác bỏ hiệp ước Quý Mùi, "chia để trị" của thực dân Pháp, đã tao ra tình trạng Nam Kỳ thuộc địa, Trung Bắc kỳ bảo hộ. 
  • Xác quyết sự toàn vẹn lãnh thổ của Đại Nam Quốc, ba miền đều có tư thế chính trị giống nhau và bất khả phân trong nền tảng màu Vàng của dân tộc Việt ở phương Nam. 
  • Nêu cao tinh thần "quốc gia dân tộc", bằng cách đoạn tuyệt với sự liên hệ của chữ Hán, cũng như thoát ly ra khỏi nền bảo hộ Pháp và triều cống Trung Hoa.
Chính vì các ý nghĩa trên mà lá cờ Vàng còn được mệnh danh là cờ "Quốc Gia" (như vậy, từ ngữ "quốc gia" có từ cuối thế kỷ 19, đối nghịch với "thuộc địa" - chớ không chỉ mới có vào cuối thế kỷ 20 khi từ ngữ "cộng sản" xuất hiện).

Lá cờ Quốc Gia đã được tồn tại suốt triều vua Thành Thái. Năm 1907, vì tánh khí quật cường, không chịu làm một ông vua bù nhìn và không nghe theo các đề nghị của Pháp, vua Thành Thái bị Pháp biếm nhục là ông mắc bệnh "điên" và truất phế ông, rồi đưa ông đi quản thúc ở Vũng Tàu. Con vua Thành Thái là hoàng tử Vĩnh San được triều đình phò lên ngôi, lấy hiệu là Duy Tân. Cũng như vua cha, vua Duy Tân tuy còn nhỏ tuổi mà đã tỏ ra là một người ái quốc can đảm. Vì thế, lá cờ Quốc Gia vẫn còn tồn tại cho đến khi chính vua Duy Tân cũng bị bắt vì tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp rồi bị đày sang đảo Réunion ở Phi Châu cùng với vua cha vào năm 1916.

Ghi chú: Dữ kiện là Cờ Vàng hiện hữu từ 1890-1920 được tìm thấy trên website của World Statemen. Chủ website này là Ben Cahoon, một chuyên gia Mỹ, tốt nghiệp đại học University of Connecticut.

World Statemen là một website khổng lồ, chứa các lịch sử chính trị của hầu hết quốc gia trên thế giới, trong đó có VN. Tài liệu trong website này vô cùng phong phú, khá chính xác về các phần khác của VN, như các triều vua, các đời quan toàn quyền Pháp, v.v.., với sự đóng góp của nhiều giáo sư danh tiếng.

Người viết nghĩ rằng ngoài sự căn cứ vào các tài liệu, các sử gia còn cần phải cân nhắc, phân tích các sự tường thuật có khi mâu thuẫn, đối chiếu các biến cố thời sự để tìm ra các dữ kiện hợp lý nhất, với ý hướng rằng việc gì cũng có cái nguyên ủy của nó chứ không phải tự nhiên mà có. Lịch sử VN từ ngàn năm trước được viết bởi các sử gia thời hiện đại, mỗi người mỗi khác, và cũng khác với sử ký do người Hoa viết (như bộ Sử Ký Tư Mã Thiên chẳng hạn). Những sử gia thời sau dùng các sử liệu của người thời trước cho công trình nghiên cứu của mình, có khi lại thêm những khám phá mới. Đó là sự phát kiến về lịch sử vậy. Phát kiến (innovation) là tìm ra sự kiện mới dựa trên tài liệu cũ, chứ không phải phát minh (invention), hay bịa đặt sự kiện (fabrication). Các bộ sử của Sử Gia Phạm Văn Sơn viết gần đây nhất, rất dày, có nhiều chi tiết khá lý thú và mới lạ, không hề tìm thấy nơi sách khác, có lẽ đã được viết theo phương pháp "phát kiến" ấy.

Sau khi đối chiếu với các sử sách, bằng vào trí thức và sự chân thành của Ben Cahoon, người viết không nghĩ tác giả website đã bịa đặt ra sự kiện Cờ Vàng đã hiện hữu năm 1890 - 1920, cũng như Cờ Đại Nam bằng chữ Hán xoay 90 độ nghịch chiều. Hiển nhiên Cahoon đã tìm thấy trong hàng đống tài liệu hay thư khố Pháp và Mỹ hoặc các đại học, nhưng lại không trích dẫn rõ ràng tài liệu nào. Riêng cờ chữ Hán "Đại Nam" thì ông cũng không trích dẫn xuất xứ và diễn tả là gì (có lẽ vì không hiểu chữ Hán), nên lúc nhìn qua không ai hiểu được là gì. Về sau, loay hoay xoay chuyển các chữ Đại và Nam, người viết mới khám phá ra cái thâm ý của tiền nhân triều Nguyễn.

Trong tinh thần tôn trọng các sách sử và các bài viết của các bậc trưởng thượng, mới đầu người viết cũng có sự nghi hoặc về dữ kiện Cờ Vàng hiện hữu từ 1890, vì không thấy sách Việt sử nào ghi lại chi tiết này. Nhưng về sau thì người viết thấy dữ kiện ấy rất hữu lý khi đối chiếu với lịch sử vào thời điểm nước ta mới bị Pháp ép ký các Hiệp Ước 1883 và 1884, cắt miền Nam cho Pháp làm thuộc địa. Tiếp theo, Pháp đày ải các vua Thành Thái và Duy Tân, vì hai vua này chủ trương toàn vẹn lãnh thổ. Các sự kiện này rất phù hợp với ý nghĩa của Cờ Vàng.

Trên đây là sự đối chiếu và chọn lọc của người viết để đi đến kết luận là tài liệu của World Statesmen có tính xác thực và khả tín. Tuy nhiên, nếu độc giả không thỏa mãn với tài liệu của World Statesmen thì nên trích dẫn tài liệu phản bác lại.

4. Cờ Bắc Trung Kỳ trong thời miền Nam thành thuộc địa Pháp

Sau khi hai vua Thành Thái và Duy Tân bị Pháp bắt đày đi Phi Châu, con của vua Đồng Khánh là Khải Định lên ngôi. Giống như cha, Khải Định cũng là một vua bù nhìn và nổi tiếng nịnh Tây. Vì vậy, đến năm 1920 thì Khải Định tuân lời quan bảo hộ Pháp, xuống chiếu thay đổi Cờ Vàng Quốc Gia tượng trưng cho ba miền thống nhất, thành Cờ Vàng Một Sọc Đỏ, chỉ tượng trưng cho hai miền Bắc và Trung của triều đình Huế mà thôi (còn miền Nam thì trở thành thuộc địa và có "quốc kỳ" riêng).


Long Tinh Kỳ (1920 - 10/3/1945) * Nền vàng * Một sọc đỏ lớn * Biểu tượng cho Bắc và Trung kỳ mà thôi * 10/3/1945 là ngày cáo chung của chế độ bảo hộ Pháp

Lá cờ Vàng Một Sọc Đỏ, cũng được gọi là cờ "Long Tinh", vì nó biến thể từ Long Tinh Kỳ nguyên thủy trong mấy chục năm đầu của nhà Nguyễn. Nền vàng có hình chữ nhật tương tự như quốc kỳ của các quốc gia khác. Chấm đỏ được kéo dài ra thành sọc đỏ ở giữa. Tua xanh không còn nữa. Đây là lá cờ biểu hiệu cho một quốc gia chỉ còn hai miền Bắc và Trung, thuộc quyền bảo hộ Pháp. Lá cờ này trải qua đời vua Khải Định và tồn tại trong đời vua Bảo Đại, sau khi vua Khải Định băng hà vào năm 1925. Sau khi lên ngôi vào đầu năm 1926 lúc mới 12 tuổi, vua Bảo Đại trao hết quyền cho "Hội Đồng Phụ Chính" với sự chỉ đạo của Toàn Quyền Pháp rồi trở sang Paris tiếp tục học cho đến 1932 mới trở về chấp chính. Lá cờ Long Tinh vẫn được tiếp tục dùng làm biểu tượng của triều đình Huế, lúc bấy giờ chỉ còn thẩm quyền cai trị hai miền Bắc và Trung dưới sự bảo hộ của Pháp.

5. Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa (miền Nam thuộc địa Pháp)

Trong khi đó, từ năm 1923, Nam Kỳ đã chính thức thành thuộc địa Pháp "Nam Kỳ Quốc", có chính phủ riêng, quân đội riêng và đã có "quốc kỳ" khác với Long Tinh Kỳ. Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa có nền vàng, với hình cờ Tam Tài của "mẫu quốc" Pháp nằm trên góc trái, như hình ảnh dưới đây.


Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa (1923 - 10/3/1945) * Nền vàng * Cờ Tam Tài, màu xanh trắng đỏ nằm trên góc trái * 10/3/1945: Nhật đảo chính Pháp

Cờ này tồn tại đến 10/3/1945 thì cáo chung sau khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương.

6. Long Tinh Kỳ trong thời Nhật chiếm Đông Dương, 11/3/1945 - 8/1945

Một ngày sau khi Nhật đảo chánh Pháp, vua Bảo Đại đăng đàn tại Huế vào ngày 11/3/1945, tuyên bố hủy bỏ hòa ước Quý Mùi 1883 và Giáp Thân 1884, Việt Nam thống nhất và độc lập, theo chế độ Quân Chủ tân thời như một số quốc gia Tây Phương, và ủy nhiệm cho học giả Trần Trọng Kim thành lập chính phủ. Sau đó, vua Bảo Đại phân định cho Long Tinh Kỳ trở lại cương vị của Đế Kỳ, chỉ treo nơi Hoàng Thành Huế hoặc mang theo những nơi vua tuần du. Long Tinh Đế Kỳ cũng tương tự như Long Tinh Quốc Kỳ trong thời Pháp bảo hộ, nhưng nền vàng đậm hơn và sọc đỏ thu hẹp lại bằng 1/3 chiều cao lá cờ, để tương xứng với cờ Quẻ Ly của chính phủ Trần Trọng Kim.


Long Tinh Đế Kỳ (11/3 - 30/8/1945) * Nền vàng * Sọc đỏ bằng 1/3 cờ * 11/3/45: Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập, Long Tinh Kỳ trở thành Đế Kỳ * 30/8/1945: Bảo Đại thoái vị, Đế Kỳ cáo chung

7. Cờ Quẻ Ly của quốc gia Việt Nam trong thời Nhật chiếm Đông Dương

Để biểu trưng cho Quốc Gia trong chế độ Quân Chủ, Bảo Đại ký sắc lệnh chấp thuận đề nghị của Thủ Tướng Trần Trọng Kim, lấy lại quốc hiệu Việt Nam mà nhà Thanh đã chấp thuận trong thời vua Gia Long, và sáng tạo ra một quốc kỳ mới. Đó là lá cờ có nền vàng tương tự như Long Tinh Đế Kỳ nhưng vạch đỏ được chia làm ba vạch nhỏ bằng nhau, riêng vạch giữa thì đứt khoảng, tương tự như quẻ Ly, một quẻ trong Bát Quái.

Không có tài liệu nào ghi lại lời giải thích của chính học giả Trần Trọng Kim về ý nghĩa của Cờ "Quẻ Ly". Tuy nhiên, cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, trong bài viết dưới tựa đề "Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam" đã giải thích như sau:

Ly là một quẻ của bát quái. Cũng như màu đỏ, nó tượng trưng cho phương nam. Trong vũ trụ quan của Việt Nam và Trung Hoa thời trước, màu đỏ thuộc hành hỏa, tượng trưng cho mặt trời hay lửa; quẻ Ly cũng tượng trưng cho mặt trời, cho lửa, cho ánh sáng, cho nhiệt lực và về mặt xã hội thì tượng trưng cho sự văn minh. Về hình dạng thì quẻ Ly trên cờ của chánh phủ Trần Trọng Kim gồm một vạch đỏ liền, một vạch đỏ đứt và một vạch đỏ liền. Do đó, bên trong quẻ Ly, hiện lên một nền vàng gồm hai vạch liền và một vạch đứng nối liền hai vạch ấy. Trong Hán văn, đó là chữ Công. Chữ công này được dùng trong các từ ngữ công nhơn, công nghệ để chỉ người thợ và nghề biến chế các tài nguyên để phục vụ đời sống con người. Vậy, ngoài ý nghĩa văn minh rạng rỡ, quẻ Ly còn hàm ý ca ngợi sự siêng năng cần mẫn và sự khéo léo của dân tộc Việt Nam trong các ngành hoạt động sản xuất kỹ nghệ.

Còn tài liệu của Cơ Sở Việt Tộc Paris thì ghi:

Theo Kinh Dịch (khoa học đông phương nói về quy-luật biến-hóa của vạn vật) thì Quẻ Ly thuộc cung Hỏa ở phương Nam. Vì thế nên chữ LY phải mang màu đỏ của lửa. Hình-thể lá cờ tượng-trưng cho lảnh-thổ nên phải là hình vuông (trời tròn đất vuông); nay biến thành hình chữ nhật cho phù-hợp với quy-ước quốc-tế. Vì vậy nên lá cờ mang quẻ ly đã nói lên vị-trí của một Quốc-gia ở phương Nam, tức nước NAM. Nay nước Nam thì ai làm chủ? Màu vàng giải trên toàn thể lá cờ mà ngày xưa gọi là Hoàng Địa, nay ta gọi là Nền Vàng, có nghĩa là dân Việt làm chủ trên mảnh đất đó.

Cờ Quẻ Ly thời Nhật (11/3 - 5/9/1945) * Nền vàng, ba sọc đỏ, sọc giữa đứt khoảng hơi giống hình Quẻ Ly * Quốc kỳ chính thức thời Nhật, đồng thời với Long Tinh Đế Kỳ

Như vậy, ý nghĩa Cờ Quẻ Ly là sự thống nhất, độc lập cả ba miền thành một khối và theo chế độ quân chủ. Tuy vậy, trên thực tế, chính phủ Trần Trọng Kim chỉ được Nhật trao thẩm quyền điều hành hai miền Bắc và Trung mà thôi. Còn miền Nam Việt Nam hết lệ thuộc vào Pháp thì lại lệ thuộc vào Nhật.

Mặc dù Cờ Quẻ Ly có ý nghĩa tốt đẹp, nhưng bị nhiều người chỉ trích là "lệ thuộc vào kinh dịch, tức là còn nô lệ văn hóa của người Hán", tương tự như Đại Nam Kỳ bằng Hán tự trong thời vua Đồng Khánh gần cuối thế kỷ 19.

8. Cờ Đỏ Sao Vàng của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa"

Hai quả bom nguyên tử của Mỹ thả xuống lãnh thổ Nhật ngày 6 và 9 tháng 8/1945 đã đưa đến hậu quả là Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện. Hậu quả này tạo nên một tình trạng hỗn độn chính trị chưa từng có tại Việt Nam suốt trong tháng 8. Các tổ chức cách mạng liên tiếp tổ chức những cuộc biểu tình giành độc lập, và chính phủ Trần Trọng Kim bị xem là "chính phủ thân Nhật", nên không ai dám hợp tác và Thủ Tướng Trần Trọng Kim đã phải từ nhiệm.

Trong tình trạng hỗn độn, Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi tắt là Mặt Trận Việt Minh, lập ra "Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời" của nước "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa", do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo, tranh thủ được quyền điều hành đất nước qua những biến cố sau đây:
  • Ngày 19/8/1945, tại Hà Nội, Việt Minh tổ chức biểu tình trước tòa Khâm Sứ và "cướp chính quyền" trước hàng chục ngàn dân Hà Nội. 
  • Ngày 22/8/1945, tại Thuận Hóa, Việt Minh hạ cờ Ly trước toà hành chánh của chính phủ Trần Trọng Kim, treo cờ Đỏ Việt Minh. 
  • Ngày 24/8/1945, tại Sài Gòn, Việt Minh thuyết phục các tổ chức cách mạng nhường cho Việt Minh quyền "tiếp thu vũ khí của Nhật", và lập ra "Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ Lâm Thời". 
  • Ngày 30/8/1945, tại Huế, trước sự chứng kiến của hàng chục ngàn người, Việt Minh nhận ấn tín của Hoàng đế Bảo Đại trong Lễ Thoái Vị, hạ cờ Long Tinh xuống, treo cờ Đỏ lên, chấm dứt chế độ quân chủ Việt Nam. 
  • Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước sự chứng kiến của hàng chục ngàn người, ông Hồ Chí Minh đọc "Tuyên Ngôn Độc Lập" của nước "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa".


Cờ Mặt Trận Việt Minh (5/9/1945 - 20/12/1946) * Nền đỏ, sao vàng, cạnh sao hơi cong * 5/9/1945: Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 5 dùng cờ Việt Minh làm Quốc Kỳ, thay thế cờ Quẻ Ly * 20/12/1946: Việt Minh rút vào bưng kháng chiến chống Pháp. Cờ Việt Minh tạm mất tư thế Quốc Kỳ.

Trong suốt năm 1946, quân đội Pháp càng ngày càng chiếm ưu thế trên các cuộc đụng độ với quân đội Việt Minh. Đến 20/12/1946, Pháp chiếm được Bắc Bộ Phủ, Hồ Chí Minh tuyên bố rút vào bưng kháng chiến. Dần dần, Pháp chiếm đóng và kiểm soát các thành phố, quận lỵ, và các làng xã đông dân; còn Việt Minh thì đồn trú tại các vùng quê, rừng núi hẻo lánh. Như vậy, Cờ Đỏ Việt Minh bị xem như tạm thời mất tư thế "quốc kỳ" kể từ ngày 20/12/1946 là ngày Pháp chiếm Bắc Bộ Phủ cho đến ngày 20/7/1954 là ngày đất nước chia đôi và Việt Minh trở lại cầm quyền trên miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở lên.

9. Cờ Vàng sọc Xanh của Chính Phủ Lâm Thời "Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc"

Riêng tại miền Nam, kể từ 9/10/1945 sau khi giải giới Nhật, Anh chính thức giao quyền cho Pháp quản nhiệm hành chánh miền Nam vĩ tuyến 16. Kế đến Pháp trở cờ, tái lập "Cộng Đồng Liên Bang Đông Dương". Ngày 1/6/1946 nước "Cộng Hòa Nam Kỳ" ra đời, với nội các Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh. Lá cờ "Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc" có nền vàng bao bên ngoài ba sọc xanh ở giữa, chen giữa ba sọc xanh là hai sọc trắng. Ý nghĩa của ba sọc xanh là ba phần Việt, Miên, Lào trong liên bang Đông Dương sống hòa bình thịnh vượng (màu xanh và trắng). Chế độ "Nam Kỳ thuộc địa" tồn tại được 2 năm thì cáo chung với sự thành lập Quốc Gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc Trưởng kể từ 2/6/1948.


Cờ Nam Kỳ Cộng Hoà Quốc (1/6/1946 - 2/6/1948) * 1/6/1946: Nam Kỳ CH Quốc trong Liên Bang Đông Dương * Nền vàng, ba sọc xanh, hai sọc trắng * 2/6/1948: Bảo Đại lập Quốc Gia Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp, thống nhất ba miền

10. Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của "Việt Nam Quốc" và "Việt Nam Cộng Hòa"

Tại Hà Nội, sau khi Việt Minh rút vào bưng kháng chiến chống Pháp, thì nền hành chánh của miền Bắc và Trung tạm thời rơi vào tay người Pháp. Kế đó, cựu hoàng Bảo Đại được các đảng phái cách mạng cũng như người Pháp mời ra điều khiển đất nước với tư cách "Quốc Trưởng". Ông đòi hỏi Pháp phải công nhận cho Việt Nam được quyền độc lập và thống nhất ba miền, rồi thành lập "Chính Phủ Trung Ương Lâm Thời Việt Nam", cử tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tướng để điều hành đất nước và thương thảo với Pháp. Tiếp theo, Hội Đồng Đại Biểu Chính Phủ Nam Việt Nam của "Nam Kỳ Cộng Hoà Quốc" gởi kiến nghị tán thành chính phủ trung ương, chấp nhận sự độc lập và thống nhất thật sự của ba miền. Vì thế ngày 2/6/1948, chính phủ Nguyễn Văn Xuân công bố Quốc Kỳ và Quốc Ca Việt Nam trong liên hiệp Pháp, áp dụng cho cả ba miền Nam, Trung và Bắc Kỳ.

Lá Quốc Kỳ mới cũng có nền vàng với ba sọc đỏ giống hệt như Đại Nam Quốc Kỳ trong thời khoảng 1890 - 1920. Nhưng đây là lần đầu tiên, Cờ Vàng được chính thức dùng cho "Quốc Gia Việt Nam", một chế độ không còn thuộc Đế Chế của Triều Nguyễn. Bàn về xuất xứ của lá Cờ Vàng của chế độ mới, cố GS Nguyễn Ngọc Huy cho biết lá cờ này đã "do một họa sĩ nổi tiếng thời Đệ Nhị Thế Chiến là Lê Văn Đệ vẽ và đã được Cựu hoàng Bảo Đại chọn trong nhiều mẫu cờ khác nhau được trình cho ông trong một phiên họp ở Hongkong năm 1948". Tuy nhiên, một số tài liệu khác cho thấy không phải ngẫu nhiên mà Bảo Đại chọn lá cờ ấy, cũng không phải chỉ vì lá Cờ Vàng "đẹp và ý nghĩa". Nguyên do chính là vì họa sĩ họ Lê đã vẽ lại một lá quốc kỳ từng hiện hữu trên quê hương từ 50 năm về trước, suốt trong thời kỳ hai vị vua ái quốc Thành Thái và Duy Tân còn tại vị. Điều này đã được giải thích tường tận ở mục "3- Quốc kỳ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ dưới hai triều đại Kháng Pháp 1890 - 1920"


Cờ Vàng Quốc Gia Việt Nam (2/6/1948 - 20/7/1954) * 2/6/1948: Chính Phủ Trung Ương dùng Cờ Vàng làm quốc kỳ giống như Đại Nam Kỳ thời 1890-1920 * 20/7/1954: Đất nước chia đôi theo Hiệp Định Genève. Từ đó, Cờ Vàng vẫn được dùng làm Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà từ 20/7/1954 đến 30/4/1975.

Vào năm 1948, Bảo Đại không muốn tái sử dụng Long Tinh Kỳ vì đó là Đế Kỳ của một đế chế mà ông đã chấm dứt vào tháng 8/1945. Một ông vua tha thiết với nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ, đến nỗi chịu thoái vị vì quyền lợi tối thượng của đất nước, hẳn dư biết nguồn gốc của lá Cờ Vàng. Ngoài ra, một vài chi tiết lịch sử quan trọng khác cũng đã góp phần vào việc chọn lựa Cờ Vàng: Đó là cái chết oan ức tại Phi Châu vào cuối năm 1945 của hoàng tử Vĩnh San, tức là cựu hoàng Duy Tân, và sự hiện diện tại Sài Gòn từ năm 1947 của cựu hoàng Thành Thái, thân sinh của Duy Tân. Cờ Vàng đã được dùng làm Quốc Kỳ lần đầu trong triều đại của hai vị vua này. Cả hai đã là linh hồn của cuộc kháng chiến chống Pháp dành độc lập vào đầu thế kỷ 20, mà hậu quả là cuộc xử tử các thủ lãnh Quang Phục Hội như anh hùng Thái Phiên, Trần Cao Vân vào năm 1916, và án lưu đày Phi Châu của hai vị vua ái quốc ấy. Năm 1942, hoàng tử Vĩnh San gia nhập quân đội Pháp (cánh De Gaulle), đến năm 1945 được thăng cấp Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng. Khi Thế Chiến thứ 2 kết thúc, Tướng De Gaulle về Pháp cầm quyền, dự định cho ông về Việt Nam. Nhưng sau đó, có người tố cáo cho De Gaulle biết Vĩnh San luôn luôn ấp ủ chủ trương Việt Nam độc lập và thống nhất Nam, Trung, Bắc. Vì vậy, trong lần hội kiến với De Gaulle vào ngày 14/12/1945, ông bị khiển trách nặng nề và bị tước mất cấp bậc. Ông đã tâm sự với người bạn thân rằng ông lo ngại sẽ bị hại. Ngày 24/12/1945, ông bị đưa về lại đảo Réunion. Hai hôm sau, ông bị tử nạn máy bay tại Trung Phi. Cái chết đầy nghi vấn của cựu hoàng Duy Tân đã làm dư luận Việt Nam xúc động và thương tiếc vị vua ái quốc. Năm 1947, cha ông là cựu hoàng Thành Thái lúc bấy giờ đã 68 tuổi, được Pháp cho về Sài Gòn, với điều kiện là ông không giữ bất cứ một trách nhiệm chính trị nào cả. Dù vậy, sự hiện diện của cựu hoàng Thành Thái cùng với cái chết của cựu hoàng Duy Tân hiển nhiên đã gợi lên tinh thần tôn kính hoài bão của hai vua. Chắc chắn Bảo Đại có đến thăm bậc Thái Thượng Hoàng khả kính của ông, và hội ý trong việc chọn Cờ Vàng làm Quốc Kỳ, nhưng ông không thể tiết lộ ra, vì sẽ phạm vào điều kiện của De Gaulle khi cho cựu hoàng Thành Thái về VN, là không được tham dự vào chính trị phục quốc. Sự rao truyền rằng Cờ Vàng do họa sĩ Lê Văn Đệ vẽ ra mà không nhắc đến sự hiện hữu của Cờ Vàng 50 năm trước, cũng có dụng ý. Đó là vì nhu cầu bảo vệ an nguy của cựu hoàng Thành Thái. Vì thế, việc Quốc Trưởng Bảo Đại lựa chọn Cờ Vàng của thời chống Pháp làm Quốc Kỳ cho tân chế độ là một quyết định sáng suốt và hợp chính nghĩa.

Năm 1955, Ngô Đình Diệm tổ chức "trưng cầu dân ý", lập ra chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà, quốc hội mới vẫn giữ nguyên quốc kỳ của một chế độ đã cáo chung. Cuộc đảo chánh năm 1963, chấm dứt nền Đệ Nhất Cộng Hòa, lập nên Đệ Nghị Cộng Hoà, Cờ Vàng vẫn được giữ nguyên là Quốc Kỳ.

11. Cờ Đỏ Sao Vàng của "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" và "Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam"

Năm 1954, Hiệp Định Genève được ký kết, đưa đến việc chia hai lãnh thổ, từ vĩ tuyến 17 (ranh giới Quảng Trị và Quảng Bình) trở ra Bắc thuộc quyền kiểm soát của Việt Minh. Việt Minh trở lại Hà Nội và tái lập chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Lá cờ được dùng làm "quốc kỳ" của miền Bắc vẫn là cờ nền đỏ sao vàng, gọi là Hồng Kỳ - Cờ Đỏ. Tuy nhiên, các cạnh của ngôi sao không còn là đường cong như cờ Việt Minh nữa mà là đường thẳng.

Theo website của đảng CSVN, thì lá cờ Đỏ do ông Nguyễn Hữu Tiến vẽ ra và đã từng xuất hiện lần đầu vào ngày 23/11/1940 tại miền Nam.

Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bị người Pháp dẹp tan, với hàng ngàn người bị bắt cầm tù và 106 lãnh tụ đảng Cộng sản Đông Dương bị xử tử hình. Biến cố này cho thấy Cờ Đỏ nguyên là cờ của đảng Cộng sản Đông Dương trước khi được sửa đổi và dùng làm cờ của Việt Minh.


Cờ Đỏ Sao Vàng của VNDCCH và CHXHCNVN 20/7/1954 - hiện nay * Tương tự cờ Việt Minh, nhưng cạnh ngôi sao vẽ thẳng * Được sử dụng thống nhất làm Quốc kỳ Việt Nam từ tháng 7/1976 cho đến nay

12. Cờ Mặt Trận GPMN

Ngày 30/4/1975, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lập ra "Chính Phủ Lâm Thời" của chế độ "Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam", có "quốc kỳ" riêng là nền đỏ nửa trên, nền xanh nửa dưới, chính giữa có ngôi sao vàng, tương tự như cờ của VNDCCH. Sang năm 1976, ngày 2 tháng 7, thì đảng CSVN thống nhất hai miền thành "Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam", khai tử Cờ MTGP Miền Nam, và dùng Cờ Đỏ Sao Vàng làm Quốc Kỳ trên toàn quốc cho đến nay.


Cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam 30/4/1975 - 2/7/1976 * Tương tự cờ VNDCCH, nhưng một nửa nền dưới thành màu xanh * Bị khai tử năm 1976 khi hai miền thống nhất